Chào Mừng Bạn Đến Với Website Của LEXREAL LAW FIRM
Email: lexreal.lawfirm@gmail.com
Hotline: 0947576666

GÓC KHUẤT SAU LY HÔN: NGHĨA VỤ TRẢ NỢ CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

Mục lục

     

    1. Đặt vấn đề

    Ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, nhưng không đương nhiên làm chấm dứt toàn bộ các quan hệ tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Bên cạnh việc chia tài sản chung, một trong những vấn đề pháp lý phức tạp và dễ phát sinh tranh chấp nhất khi vợ chồng ly hôn là việc xác định và phân chia nghĩa vụ trả nợ chung. Khác với quan hệ chia tài sản vốn chỉ liên quan trực tiếp đến vợ và chồng, nghĩa vụ trả nợ chung còn liên quan đến quyền lợi của bên thứ ba là chủ nợ, do đó đòi hỏi pháp luật phải có cơ chế điều chỉnh vừa bảo đảm sự công bằng giữa vợ, chồng, vừa bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người thứ ba. Đồng thời cần phân biệt trách nhiệm của vợ, chồng đối với chủ nợ với việc phân bổ nghĩa vụ giữa hai bên trong quan hệ nội bộ sau ly hôn.)

    Bài viết phân tích quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây gọi tắt là “Luật HNGĐ”) về vấn đề này.

    2. Cơ sở pháp lý về nghĩa vụ trả nợ chung của vợ chồng

    2.1. Khái niệm và căn cứ xác định nợ chung

    Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành không đưa ra định nghĩa trực tiếp về “nợ chung của vợ chồng”, mà xác định gián tiếp thông qua các quy định về nghĩa vụ chung về tài sản tại Điều 37 Luật HNGĐ. Theo Điều 37 Luật HNGĐ, vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

    “1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

    2.  Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

    3.  Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

    4.  Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

    5.  Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

    6.  Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”

    Từ các quy định trên có thể thấy, không phải mọi khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân đều mặc nhiên được xác định là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Việc xác định một khoản nợ có thuộc nghĩa vụ chung hay không phải căn cứ vào nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ, mục đích của giao dịch, việc sử dụng khoản tiền hoặc tài sản và các căn cứ trách nhiệm tương ứng theo quy định của pháp luật.

    Bên cạnh Điều 37, Điều 27 Luật HNGĐ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của vợ, chồng đối với nghĩa vụ chung về tài sản. Theo đó, vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này. Vì vậy, việc một khoản nợ được xác định là nghĩa vụ chung không chỉ có ý nghĩa trong quan hệ nội bộ giữa vợ và chồng mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến quyền yêu cầu của người thứ ba là chủ nợ.

    Xét về bản chất, các nghĩa vụ tại khoản 1, khoản 3, khoản 4 Điều 37 Luật HNGĐ phát sinh từ ý chí chung của cả hai vợ chồng, hoặc từ chính quá trình quản lý, khai thác tài sản chung mà cả hai đều có quyền và lợi ích liên quan; do đó, việc quy hai bên cùng có trách nhiệm là hợp lý và phù hợp với bản chất của nghĩa vụ chung.

    Còn về nghĩa vụ tại khoản 2 Điều 37 Luật HNGĐ hướng đến việc đảm bảo tính linh hoạt, kịp thời trong sinh hoạt gia đình. Nếu đòi hỏi mọi giao dịch phục vụ đời sống chung đều phải có sự đồng thuận rõ ràng của cả hai bên thì sẽ gây cản trở cho hoạt động thường nhật của gia đình, đặc biệt trong các giao dịch có giá trị nhỏ, phát sinh thường xuyên.

    2.2. Nguyên tắc giải quyết nghĩa vụ trả nợ chung khi ly hôn

    Vấn đề giải quyết nghĩa vụ tài sản của vợ chồng khi ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 60 Luật HNGĐ, cụ thể:

    “1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

    2.  Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật Dân sự để giải quyết.”

    Quy định này cho thấy, việc ly hôn về nguyên tắc không làm chấm dứt quyền yêu cầu của chủ nợ đối với nghĩa vụ tài sản mà vợ chồng đã xác lập với người thứ ba. Nói cách khác, thỏa thuận hoặc phán quyết về việc mỗi bên vợ, chồng phải chịu bao nhiêu phần nghĩa vụ không đương nhiên làm thay đổi quyền của chủ nợ, nếu chủ nợ không tham gia hoặc không có thỏa thuận khác theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp nghĩa vụ được xác định là nghĩa vụ chung thuộc Điều 37 thì trách nhiệm của vợ, chồng đối với người thứ ba được xác định theo cơ chế trách nhiệm liên đới. Theo Điều 288 Bộ luật Dân sự, đối với nghĩa vụ liên đới, người có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nghĩa vụ; người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ.

    Do đó, cần phân biệt hai vấn đề: thứ nhất là trách nhiệm của vợ, chồng đối với chủ nợ; thứ hai là phần nghĩa vụ mà mỗi người phải chịu trong quan hệ nội bộ giữa vợ và chồng. Hai vấn đề này có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Việc Tòa án xác định một bên phải chịu phần nghĩa vụ nhất định về mặt nội bộ không đương nhiên có nghĩa chủ nợ chỉ được yêu cầu bên đó thanh toán đúng phần nghĩa vụ đã được phân chia.

    Trong quan hệ nội bộ giữa vợ và chồng, việc phân chia nghĩa vụ trước hết do hai bên tự thỏa thuận. Trường hợp không thỏa thuận được, việc xác định phần nghĩa vụ của mỗi bên cần được xem xét trên cơ sở Điều 27, Điều 37, Điều 45 Luật HNGĐ và các quy định của Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ liên đới, đồng thời căn cứ vào nguồn gốc, mục đích phát sinh và thực tế sử dụng khoản nợ để xác định trách nhiệm của từng bên.

    3. Kết luận

    Nhìn chung, quy định pháp luật về nghĩa vụ trả nợ chung của vợ chồng sau ly hôn phản ánh nỗ lực cân bằng giữa hai yêu cầu: bảo đảm sự công bằng, hợp lý trong quan hệ nội bộ giữa vợ và chồng, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thứ ba với tư cách chủ nợ.

    Vì vậy, khi giải quyết nợ chung sau ly hôn, không thể mặc nhiên xác định mọi khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân đều là nợ chung hoặc nghĩa vụ với chủ nợ được chia đôi. Cần xác định đúng bản chất, nguồn gốc và mục đích của khoản nợ theo Điều 27, Điều 37 Luật HNGĐ, đồng thời phân biệt trách nhiệm đối với người thứ ba với phần nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ nội bộ, trên cơ sở Luật HNGĐ và Bộ luật Dân sự. Qua đó, việc giải quyết phải bảo đảm đúng trách nhiệm thực tế của mỗi bên và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.


     

    Tin liên quan
    FACEBOOK
    MAP
    Zalo
    0947576666 0947576666